• Ayu Obara

なぜ「事実」と「意見」を区別して話せない人がいるのか?<ベトナム語訳付>

最終更新: 2019年12月27日



※本記事はWebマガジンBooks&Apps(https://blog.tinect.jp/)の記事からの転載及び翻訳です。

著作権者へ許諾を得た上で掲載しております。

元記事https://blog.tinect.jp/?p=62453



ベトナムで事業を営む日系企業の皆様から、日本人/ベトナム人の間で話が噛み合わず、一つ質問しても的を得た回答が得られず、お互いの要求が伝わっていない、または”相手の意図している事はこうであろう”と勝手な思い込みで物事を進め、その人の都合で異なった内容に置き換えられてしまう、なんてことをよく聞きます。


もちろん、お互いのコミュニケーション能力や関係性によって、日本人/ベトナム人同じ母国語同士でも問題が生じる事も多々ありますが、言語や文化の壁があったりすると理解し合うのは更に難しくなる場合が多いのが現状です。

「事実」を自分の都合で解釈し、時に捻じ曲げてしまうスタッフがいることで、イライラしたり無駄な作業が増えることが積み重なると業務全体にも影響が出てしまいます。



そのようなスタッフの”キャラクター”自体を変えるのは難しいですが、こちらからの質問の仕方を変えたりすることで、自分の「意見や感想」を述べるのではなく、「事実」と分けて伝えられるように対策・訓練する事は出来ます。


これから日本もベトナムもより一層マルチカルチャーな社会になっていくことは明らかです。

お互いに「これが自分の(国の)やり方だ!」と押し通すのではなく、こちらからも歩み寄る事でお互いの理解や信頼が深まり、業務上の勘違いや理解不足なども減少し、スムーズに業務を遂行していくための重要な鍵となるのではないでしょうか?


ベトナム語に翻訳しておりますので、是非御社のベトナム人スタッフとシェアして頂けたら幸いです。

原文(日本語)はこちら


ちょっとまえ、面白い記事をツイッターで拝見した。 Gần đây, tôi có xem được một bài viết thú vị trên Twitter.


企業の採用担当が、面接時に見ているポイントを端的に表現したものだ。 Bài viết thể hiện rõ quan điểm của một Nhà tuyển dụng nhân sự nhìn thấy trong các buổi phỏng vấn.


曰く、「事実と意見を分けて説明できるかは圧倒的に重要で、これができない人はかなり厳しい。」とのこと。 Quan điểm ấy là: Việc có thể tách bạch được sự thật và ý kiến cá nhân khi trình bày là việc vô cùng quan trọng. Và những người không làm được điều này sẽ khá khó khăn.



彼がこれを重視する理由としては Lý do mà nhà tuyển dụng này xem trọng nó đến như vậy là vì:

「事実と意見を分けて説明するのがうまい人が書いた障害報告書は読みやすい」とある。

Các báo cáo sự cố do những người giỏi trong việc tách bạch được sự thật và ý kiến cá nhân khi trình bày thường rất dễ đọc.


確かに読みやすい文章を書く人は、知的能力が高い事が多いので、採用の精度は良いのではないかと推測する。

Và người viết được những câu văn dễ đọc phần lớn là người trí thức cao, Các Nhà tuyển dụng thường dựa vào đặc điểm này để tuyển người và nâng cao hiệu quả tuyển dụng.


ただ、この文章を読んで感じるのは、

「なぜ「事実」と「意見」を区別して話せない人がいるのか。」

という疑問だ。

Thế nhưng, trong tôi lại dấy lên một nghi vấn khi đọc bài viết này:

“ Vì sao có người không thể tách bạch giữa “ Sự thật” và “ Ý kiến cá nhân” khi nói chuyện?

過去に部下だった人のひとりが、ちょうど「事実」と「意見」の切り分けができない人だった。

Một người cấp dưới trước đây của tôi, trùng hợp lại là người không thể tách bạch giữa “Sự thật” và “Ý kiến cá nhân” như thế.

例えば、こんな具合だ。

Chẳng hạn có trường hợp như thế này .


上司:「昨日の営業、途中退席してごめん。お客さん、ウチに依頼するか、決めてくれた?」 Cấp trên: “ Xin lỗi mọi người vì tôi không tham gia hết buổi gặp mặt khách hàng ngày hôm qua. Khách hàng đã quyết định chọn công ty mình chưa?”


部下:「大丈夫だと思います。」 Cấp dưới: “ Dạ em nghĩ là ổn.”


上司:「大丈夫って……決まったのか、決まってないのかが、知りたいんだけど。」 Cấp trên: “ Ổn là thế nào?.....Tôi muốn biết cụ thể là khách hàng đã đưa ra quyết định hay là chưa?”


部下:「あ、まだ決まってないです。」

Cấp dưới: “ À, dạ vẫn chưa ạ”


上司:「そうか、決まるかなと思ってたけど……。お客さん、何か懸念事項について言ってた?」

Cấp trên: “ Vậy à, vậy mà tôi cứ nghĩ là đã quyết định rồi…Thế khách hàng có nói là họ đang lo ngại về điều gì không?”


部下:「金額について不満そうでした。

Cấp dưới: “ Có vẻ như họ bất mãn về vấn đề tiền nong đó ạ.”


上司:「もう一度聞くけど、不満だと「言った」の?」

Cấp trên: “ Tôi hỏi lại một lần nữa, họ nói là họ bất mãn à?”


部下:「いえ、たしか……言ってないかと。」

Cấp dưới: “ Dạ không, chính xác là……không có nói…”


上司:「じゃ、なんで不満だと言えるの。」

Cấp trên: “Vậy tại sao anh có thể nói là họ bất mãn chứ?”


部下:「えーと…」

Cấp dưới: “ Dạ….”


上司:「もう一度聞くけど、なんて「言ってた」?」

Cấp trên: “ Tôi hỏi lại lần nữa, họ đã nói cái gì?”


部下:「ええー……確か、金額については交渉の余地がありますか、と言ってました。」

Cấp dưới: “ Dạ…chính xác họ nói là….về phần chi phí chúng ta có thể thương lượng thêm được không?”


上司:「交渉ね……、なんて回答したの?」

Cấp trên: “ Thương lượng à…? Rồi anh trả lời thế nào?”


部下:「私の一存で決められませんので、持ち帰りますと。」

Cấp dưới: “Về việc này thì tôi không thể tự quyết định được, tôi sẽ về hỏi lại”


上司:「そしたらお客さんはなんて言った?」

Cấp trên: “ Sau đó khách hàng nói gì nữa?”


部下:「納得してくれたみたいでした。

Cấp dưới: “ Có vẻ như họ đồng ý đó ạ


上司:「だ、か、ら、お客さんはなんて言ってたの?」

Cấp trên: “ Nhưng...mà… khách hàng họ đã nói những gì?”


部下:「あ、すみません。えーと……確か、わかりました、と言ってました。それと、今思い出したんですけど、見積もりを指定の様式にして欲しいとも言ってました。」

Cấp dưới: “ À, em xin lỗi. Dạ,…chính xác là họ nói: “ tôi hiểu rồi”. Với lại… giờ em mới nhớ ra…họ nói là họ muốn bên mình làm cho họ một bảng báo giá theo biểu mẫu quy định ạ...”




彼から話を聞くと、状況を把握するのに通常の3倍の時間がかかる。

Khi nói chuyện với anh ta, tôi phải mất thời gian gấp 3 lần bình thường mới có thể nắm bắt được tình hình.

何度かこのようなことが続き、私は彼に訓練を施して、きちんと「意見」と「事実」を区別できるように話せるまで、現場を任せてはいけない、と感じた。

Sự việc giống như vậy cứ tái diễn với tôi vài lần, và giờ tôi có cảm giác là “mình không thể nào giao phó hoàn toàn công việc cho đến khi anh ta có thể nói chuyện một cách đàng hoàng, tách bạch giữa “ sự thật” và “ ý kiến cá nhân”


こういった人は結構多く、以前に書いた記事に登場する「合話の噛み合わない人」にも通じるものがある。

Người có kiểu nói chuyện như vậy cũng khá nhiều, có chút giống với “kiểu người nói chuyện chẳng ăn nhập gì với câu chuyện” mà tôi từng đề cập trong một bài viết trước đây của mình.


「話の噛み合わない人」は何の能力が不足しているのか。 “Những người nói chuyện chẳng ăn nhập gì với câu chuyện”, ở họ đang thiếu đi khả năng gì?


上司:「昨日、顧客訪問が3件あったと日報に書かれてるけど、今期の受注に繋がりそうな成果があれば、報告してもらえる?」 Cấp trên: “ Trong báo cáo ngày có ghi là hôm qua đi chào hỏi 3 công ty khách hàng. Nếu có kết quả về việc đặt hàng, anh có thể báo cáo chi tiết cho tôi được không?”


部下:「あ、一つ困ったことがありまして。お客さんから会社の概要について詳しくわかる資料はないか、と聞かれたんですよ。」 Cấp dưới: “ À, có một chút rắc rối ạ. Em bị khách hàng hỏi là: “ Anh có tài liệu nào về công ty để chúng tôi có cái nhìn tổng quan, chi tiết hơn không?”


上司:「(成果を報告しろと言ったのに……)会社案内なら、この前発注をかけたので、後ろの棚に入ってるよ。」 Cấp trên: “ Tôi kêu anh báo cáo kết quả cho tôi cơ mà…? Nếu là tài liệu giới thiệu về công ty thì trước đây đã có chuẩn bị rồi, nó nằm ở phía sau kệ.”


部下:「いえ、あれじゃダメなんです。」 Cấp dưới: “ Dạ không , cái đó không được ạ.”

上司:「なぜ?」 Cấp trên: “ Tại sao không được?”


部下:「違うのがほしいということでした。」 Cấp dưới: “ Họ muốn cái khác.”


上司:「(は?質問に答えろよ……)いえ、私が聴いているのは、「なぜダメなのか」だから、理由を教えてもらえる?」 Cấp trên: “ Gì chứ? Trả lời câu hỏi đi chứ…! Cái mà tôi đang hỏi là: tại sao không được? Anh có thể nói cho tôi biết lý do được không?”


部下:「うちの会社案内、サービス案内が不十分だと思うんですよね。」 Cấp dưới: “ Trong profile công ty mình, phần giới thiệu dịch vụ của công ty em nghĩ là nó chưa đầy đủ ạ.”

上司:「あなたの意見ではなく、お客さんがなんと言っていたかを教えて。」 Cấp trên: “ Tôi không hỏi ý kiến của cá nhân anh, hãy nói cho tôi biết là khách hàng họ nói gì?”

部下:「ですから、違うのがほしいと。」 Cấp dưới: “ Dạ, họ muốn một cái khác.”

上司:「(イライラ)いや、お客さんが、なぜこの会社案内がダメだと言っていたのか、聴いてないの?」 Cấp trên: “ (Sốt ruột) Không...Khách hàng… Tại sao họ nói profile này không được? Anh không nghe tôi hỏi hả?”

部下:「えーと、さっきも言ったとおり、サービス案内が不十分だったと思いますが。」 Cấp dưới: “ Dạ…, lúc nãy em đã nói rồi, em nghĩ là phần giới thiệu dịch vụ công ty mình, nó chưa đầy đủ.”


上司:「(イライライライライライラ)だーかーらー、あなたの感想ではなく、なんてお客さんが言ってたんだよ?」 Cấp trên: “ ( Càng sốt ruột hơn....) Tôi không hỏi suy nghĩ của anh, Tôi hỏi khách hàng đã nói cái gì…?!”



部下:「あ、それは聴いてません。でも多分サービス案内のせいだと思います。」 Cấp dưới: “ Dạ...Cái đó thì em không có nghe. Nhưng mà em nghĩ có lẽ là do phần thông tin hướng dẫn về dịch vụ.”


上司:「(結局聴いてないのかよ...)……わかりました。聴いてないと。ではなぜ、サービス案内のせいだと?」 Cấp trên: “ ( Rồi, rốt cuộc là không nghe hén…?) Tôi hiểu rồi, anh không có nghe. Vậy tại sao anh nói là do phần thông tin hướng dẫn dịch vụ?”

部下:「会社案内を見せたら、サービス案内のところを見て色々と質問してきたからです。」

Cấp dưới: “ Vì khi em cho khách hàng xem profile công ty, thì họ hỏi nhiều về phần thông tin hướng dẫn dịch vụ."


これらは、企業におけるコミュニケーション能力に関してのクリティカルな欠点だ。

Đây là một khuyết điểm nghiêm trọng liên quan đến năng lực giao tiếp trong công ty.


だが、残念ながら、何回言ってもできない人は全くと行ってよいほどできないので、解消に向けて動くべく、何回かその理由を考えたことがある。

Thế nhưng, đáng tiếc là dù có nói bao nhiêu lần đi chăng nữa, mà người không thể cải thiện được thì hầu như không thể cải thiện. Vậy nên, phải hành động để hướng tới giải quyết vấn đề.


色々と文献を漁っていくと、ノーベル経済学賞受賞者の、ダニエル・カーネマンが、私の疑問に対してそれなりに明確な答えを用意していてくれた。 Tôi lùng sục, tìm tòi nhiều tài liệu, và rồi tôi đã tìm ra đáp án cho nghi vấn của mình. Nhà tâm lý học từng nhận giải Nobel Kinh tế học - Daniel Kahneman dường như đã chuẩn bị sẵn 1 câu trả lời chuẩn xác cho vấn đề mà tôi đang quan tâm.


彼によれば、「人は、出された質問が難しいと、それを簡単な質問に置き換えてしまう」という、人間の脳のつくりに依る。 Theo ông: “ Con người khi gặp phải các câu hỏi khó, não bộ thường có xu hướng thay thế nó thành các câu hỏi dễ hơn.”


例えば、以下の表を見てほしい。 Ví dụ, hãy nhìn vào bảng biểu bên dưới.



例えば、「現在の生活はどのくらい幸福か?」と聞かれた人がいるとする。 Ví dụ: Khi có người hỏi bạn: “ Cuộc sống hiện tại của bạn hạnh phúc đến mức nào?”


正確に回答をしようとすれば、「幸福」の定義を行い、過去の幸福度を算定し、現在の幸福度と比較して算出しなければ回答できないはずだ。 Nếu bạn định trả lời một cách chính xác câu hỏi này, bạn phải bắt đầu bằng việc định nghĩa hạnh phúc là gì, tính toán mức độ hạnh phúc trong quá khứ, và so sánh nó với mức độ hạnh phúc hiện tại.


ところが、それはとても面倒で難しい。 Thế nhưng, điều đó rất khó vì nó phiền lắm.


だから多くの人は、脳内で勝手に「いまの自分は気分がいいか?」という質問に置き換え、...「まあまあ幸福です」などと回答してしまう。これが「ヒューリスティックス」と呼ばれる、脳の働きだ。

Vậy nên, não bộ của nhiều người thường có khuynh hướng tự chuyển nó thành một câu hỏi dễ hơn. “ Bạn có hài lòng với cuộc sống hiện tại không?”...Và sau đó là các câu trả lời đại loại như là: “ Cũng hạnh phúc ạ”. Đó được gọi là “ Suy nghiệm ( Heuristics)”, một hoạt động do não bộ tạo ra.


「事実」と「意見」を区別できていない人は、無意識にこれを行ってしまっている。

Và những người không tách bạch được “ sự thật” với “ ý kiến cá nhân” thường làm điều đó trong vô thức.


上の会話の事例では Lấy ví dụ thực tế trong đoạn hội thoại ở trên:

「お客さん、ウチに依頼するか、決めてくれた?」という質問に対して、 Đối với câu hỏi: “ Khách hàng đã quyết định chọn công ty mình chưa?

本来であれば「その場では決めてくれませんでした。金額について「交渉の余地はあるか」と聞かれましたので。ただ、金額の折り合いさえ付けば、残りの課題は解決しているので、受注可能です。」と回答しなければならない。 Đáng lẽ phải trả lời là: “ Họ vẫn chưa quyết định. Họ hỏi chúng ta có thể thương lượng thêm về phần chi phí được không? Nếu thống nhất xong phần này thì vấn đề coi như được giải quyết. Chúng ta nhận được đơn hàng.”


だが、そのような回答は「考えるのがとても面倒くさい Tuy nhiên, một câu trả lời như vậy “ thật quá phiền để suy nghĩ “


だから彼は、質問を「お客さん、ウチに依頼するか、決めてくれた?」から、「受注できるかどう思う?」という質問に勝手に置き換えて、「大丈夫だと思います」という、自分の気持だけを答えたのだ。

Vậy nên, anh ta đã tự ý chuyển câu hỏi: “ Khách hàng đã quyết định chọn công ty mình chưa?” thành câu hỏi: “ Bạn nghĩ là có thể nhận được đơn hàng hay không?” và trả lời bằng phán đoán cá nhân của bản thân là: “ Tôi nghĩ là ổn”


これが「事実」と「意見」の切り分けができない人の正体である。 Đây là bản chất của những người không thể tách bạch giữa “ sự thật” và “ ý kiến cá nhân.”


では、このようなコミュニケーション特性は直るのだろうか。 Vậy nên, những đặc tính giao tiếp như thế này cần phải sửa đổi.

個人的な考えでは「直すことは可能」である。というのも、これは「賢さ」というよりも「注意力」の問題だからだ。 Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, việc sửa đổi là hoàn toàn có thể. Bởi lẽ vấn đề nằm ở “năng lực chú ý” chứ không phải là ở “việc thông minh” hay không.


ダニエル・カーネマンによれば、ヒューリスティックは脳の「早い思考システム」(≒直感的なもの)が担当している。 Theo Daniel Carneman, suy nghiệm Heuristics là hệ thống tư duy nhanh (trực quan) của bộ não.

だが、それを口に出してしまうと「意見」を言ってしまう。 Do đó, khi thốt ra điều gì đó thì ta thường nói “ ý kiến cá nhân” của mình.

だから、それが「意見」か「事実」かを検証するために、脳の「遅いシステム」(≒論理的なもの)の方を使えば良い。 Chính vì vậy, để xác minh xem đó là “ ý kiến” của một người hay là “ sự thật”, thì nên sử dụng hệ thống tư duy chậm (mang tính logic) của bộ não.


つまり、注意力を働かせて、「回答しようとしたことをチェックする訓練」を受ければ、直すことは可能だ。

Tóm lại, nếu bạn tập trung năng lực chú ý, kiểm tra mỗi khi bạn muốn đưa ra câu trả lời thì việc sửa đổi là hoàn toàn có khả năng.



コンサルティング会社で働くには、これができないと致命的なため、新人の時には上司から事あるごとに矯正された。

Khi làm việc tại công ty tư vấn tuyển dụng, ngay từ những ngày đầu, tôi thường được cấp trên của mình uốn nắn bởi lẻ không cải thiện được điều này thì đó quả là một điểm yếu.

報告がわかりにくい時 → 「結論から言って。」 Khi báo cáo khó hiểu → Nói kết luận trước

話がまとまっていない時 → 「これに書いてみて。」 Khi câu chuyện chưa được tóm gọn lại → Hãy thử viết nó ra.

上司やお客さんに大事なことを伝える時 → 「言葉にこだわって。」 Khi truyền đạt việc quan trọng đến khách hàng hoặc cấp trên → Chú trọng ngôn từ

記憶があいまいな時 → 「会議や営業の記録は必ず当日中にまとめなさい。」 Khi mơ hồ không nhớ rõ → Nội dung cuộc họp hay các buổi trao đổi với khách hàng nhất thiết phải ghi chép lại ngay ngày hôm đó.


この4つだけでも、かなり「回答する時に注意する」ことに繋がり、結果としてこれは、「事実」と「意見」を区別する訓練にもなる。

Với chỉ 4 điểm vậy thôi, nhưng nếu ta tập trung năng lực chú ý mỗi khi trả lời thì kết quả đem lại là ta luyện tập được khả năng tách bạch giữa “ sự thật” với “ ý kiến”


また、その時に上司にとても感謝したのは、「早くしろ」と急かされなかったことだ。 Ngoài ra, tôi cảm thấy biết ơn cấp trên vì không giục tôi “ Làm nhanh lên” tại thời điểm đó.

私の考えがまとまるまで、紙に書き上がるまで、上司は10分でも、20分でも待ってくれた。 Cấp trên sẵn sàng chờ tôi 10 phút, thậm chí 20 phút, cho đến khi tôi tóm gọn lại được suy nghĩ và viết xong ra giấy.

上司のスケジュールの過密度を考えれば、本当に感謝しかない。 Suy nghĩ đến lịch trình làm việc dày đặc của Sếp, tôi thật sự cảm thấy biết ơn.



冒頭の面接官は、こんなことを記事の最後に追記していた。 Nhà tuyển dụng mà tôi đề cập ở đầu bài, có thêm vào cuối bài viết của ông một đoạn như thế này.


社内に下書きを公開したところ『この公開によって「面接対策される」みたいな懸念ってありますか?』と聞かれたので、『対策してきて、しっかりした受け答えができる人が応募してくれるのはウェルカムです!』と返答しました。 Ngay khi công bố bản viết nháp ở công ty, có người hỏi tôi rằng: “Bằng việc công bố bài viết này, anh có mối e ngại nào không? Chẳng hạn như: “ Ứng viên sẽ tìm ra được các đối sách khi đi phỏng vấn”. Tôi đã trả lời rằng: “Chúng tôi hoan nghênh và sẵn sàng tuyển dụng những bạn ứng viên có thể đưa ra đối sách cũng như có thể đối đáp một cách chỉnh chu các vấn đề.”


そう、「注意を働かせる」のは、誰でもできる。 Đúng vậy, việc tập trung năng lực chú ý ai cũng có thể làm được


対策、訓練で「事実」と「意見」は誰でも区別して話せるようになるのだ。 Bằng việc có đối sách và tập luyện nó thì ai cũng có thể nói chuyện tách bạch giữa “ sự thật” và “ ý kiến cá nhân”.


Grasp!の転職支援サービスは求職者のみなさんの自己分析・自己認識を促していただくべく、対話型のキャリアカウンセリングを行っております。


採用支援サービスへのお問合せはこちらです。



Grasp!の転職支援サービスへのお問合せはこちらです。



#海外移住 #海外転職 #海外キャリア#ベトナム生活 #キャリアカウンセリング #人事・採用 #ベトナムキャリア #Grasp!

Grasp!

Ho Chi Minh Office

195 Điện Biên Phủ, Phường 15, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh 

Hanoi Office

Indochina Plaza, 24, Xuan Thuy Road, Cau Giay Dist, Hanoi

メール・お電話・SKYPEでお気軽にご連絡ください

+84 (0)90-6299930 (日本語・English)

+84 (0)90-9820998 (Tiếng việt・日本語)

​※ベトナム国外からのお問い合わせの際は国番号+84が必要です。

© 2017 by Grasp!

  • Facebook Social Icon

日本語Facebookページ

  • Facebook Social Icon

ベトナム語Facebookページ

  • Twitter Social Icon

日本語Twitter

  • Instagram

 Instagram

 © 2017 by Grasp!